Tìm hướng phát triển cho các trường ĐH-CĐ ngoài công lập

Giáo dục

Tìm hướng phát triển cho các trường ĐH-CĐ ngoài công lập

(PLO) - Sáng nay (8-10), báo Pháp Luật TP.HCM phối hợp với Hiệp hội Các trường ĐH-CĐ NCL tổ chức buổi tọa đàm với chủ đề ‘Hướng phát triển cho các trường ĐH-CĐ ngoài công lập’. Tọa đàm thu hút rất nhiều các chuyên gia trong ngành giáo dục tham gia.

Bản tin liên quan


 TS Nguyễn Đức Nghĩa, Phó Giám đốc ĐHQG TP.HCM phát biểu tại buổi tọa đàm.

Mở đầu buổi tọa đàm TS Nguyễn Đức Nghĩa, Phó Giám đốc ĐHQG TP.HCM cho rằng số lượng các cơ sở giáo dục ĐH-CĐ NCL hiện nay đang tăng nhanh, tính đến năm 2014, đã có 90 trường (60 trường ĐH, 30 trường CĐ), chiếm 22% tổng số trường ĐH-CĐ trên cả nước. Số sinh viên đang học tại các trường ngoài công lập chiếm chưa đến 15% tổng số sinh viên. Điều này sẽ khó lòng đạt con số 40% tổng số sinh viên học trong các trường NCL như Chiến lược phát triển giáo dục 2009-2020 đã đề ra cho mục tiêu đến năm 2020. So với các nước của châu Á, tỉ lệ này đang ở mức rất thấp, đến mức cần sớm có một quyết sách định hướng cho phát triển giáo dục ĐH-CĐ NCL.

Hệ thống các trường ĐH, CĐ ngoài công lập (NCL) đang đứng trước nhiều khó khăn thử thách về cơ chế, chính sách và kể cả quan điểm nhìn nhận đánh giá vai trò, hiệu quả, phương thức hoạt động. Tất cả những điều đó làm cho các trường ĐH,CĐ ngoài công lập hiện nay gặp khó khăn trước mắt là việc tuyển sinh đầu vào. Nguồn kinh phí hoạt động các trường ĐH,CĐ dựa trên học phí của người học. Nếu như không tuyển sinh được thì ảnh hưởng đến hoạt động của nhà trường.


 TS. Nguyễn Thị Anh Đào, Chủ tịch HĐQT Đại học Đông Á. Ảnh: Tú Quyên

Góp ý về hướng phát triển của các trường ĐH, CĐ ngoài công lập, TS. Nguyễn Thị Anh Đào, Chủ tịch HĐQT Đại học Đông Á (Đà Nẵng) chia sẻ: Tổ chức và quản lý các trường đại học, hầu như chỉ quy định chi tiết với đại học công lập. Mọi vấn đề tổ chức và quản lý của đại học ngoài công lập đều dành cho Quy chế Tổ chức và Hoạt động của trường. Và Quy chế tổ chức và hoạt động này là do Đại hội đồng cổ đông thông qua. Quy định như vậy hàm nghĩa rằng trong giáo dục ngoài công lập đại hội đồng cổ đông (chủ sở hữu) là quyền lực gốc, có quyền quyết định cao nhất. Các cơ quan quản lý, điều hành hằng ngày như: Hội đồng quản trị và Chủ tịch; Ban giám hiệu và Hiệu trưởng; Ban Kiểm soát; Hội đồng đào tạo,.. là các nhánh quyền lực con, một thứ quyền lực phái sinh chỉ có được từ sự ủy nhiệm của quyền lực gốc. Và sự ủy nhiệm ấy được thực hiện bằng các quy định về tổ chức và nhân sự trong quy chế tổ chức và hoạt động của trường do đại hội đồng cổ đông ban hành. Qua đó, Đại hội đồng cổ đông vẫn nắm thực quyền kiểm soát vì vẫn còn quyền ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động. Thông qua quy chế này, các cổ đông có thể đưa ra các quy định bảo đảm quyền lực cao nhất trong ngôi trường mà họ sở hữu, để họ có thể yên tâm quyết định việc tăng vốn đầu tư.

Trong mọi cơ sở tư, kinh tế hay giáo dục, cần phải xác nhận sở hữu chủ có quyền lực gốc, vì vậy định chế Đại hội đồng cổ đông cần phải được khôi phục, ở địa vị cao nhất, trong mô hình tổ chức. Chỉ định chế này mới có quyền ban hành Điều lệ và Quy chế Tổ chức và Hoạt động (lập hiến, lập pháp) và bổ nhiệm các nhân sự quản lý cấp cao trong các cơ quan Hội đồng quản trị, Ban giám hiệu (hành pháp), Ban Kiểm soát (tư pháp). Vì DHDCD thường rất đông, không thể duy trì thường xuyên vai trò của minh nên phải cử ra Hội đồng quản trị, có số lượng ít hơn, đại diện thay mình giữa hai kỳ họp. Quan điểm này cần được thấu suốt và triển khai mạch lạc, nhất quán trong việc lập quy của cơ sở tư.

Khung cảnh buổi tọa đàm tổ chức tại báo Pháp Luật TP.HCM. Ảnh: Tú Quyên

TS Dương Tấn Diệp cho rằng đối với các trường ngoài công lập, cần hoàn thiện hành lang pháp lý, trong đó có mấy điểm: Phân biệt rõ 2 mô hình: lợi nhuận và phi lợi nhuận. 

Ở Mỹ và nhiều nước khác, đại học phi lợi nhuận hoàn toàn không có cổ đông, không có chủ sở hữu, do đó không có việc chia cổ tức cho người góp vốn. Còn các trường vì lợi nhuận thì cơ chế vận hành tương tự một doanh nghiệp. Ở Việt Nam, mô hình “không vì lợi nhuận” về thực chất vẫn chưa phải là phi lợi nhuận đúng nghĩa bởi lẽ vẫn có chủ sở hữu và vẫn có thể chia cổ tức. Khi trường giải thể, toàn bộ giá trị tài sản còn lại sau khi trừ các khoản thanh toán theo luật định, cuối cùng vẫn thuộc về người góp vốn. Khi chuyển nhượng, giá trị tài sản chung không chia vẫn là yếu tố hình thành nên giá bán, nghĩa là vẫn thuộc sở hữu của người góp vốn. Vì vậy, nên có định nghĩa xác thực hơn đối với loại trường phi lợi nhuận, tương tự như các nước trên thế giới.

Cần có sự khẳng định về quyền sở hữu tài sản của người góp vốn đối với trường vì lợi nhuận thì mới khuyến khích đầu tư dài hạn cho việc phát triển trường. Vốn sở hữu chung không chia được hình thành từ lợi nhuận tích lũy hàng năm, về thực chất cũng là một trong các nguồn vốn chủ sở hữu, mà sở hữu chủ của nó không ai khác hơn là những người góp vốn.

Cần khẳng định quyền của Đại hội đồng cổ đông và Hội đồng quản trị đối với trường vì lợi nhuận. Đại hội đồng cổ đông là cơ quan quyền lực cao nhất và phải được xác định rõ trong cơ cấu tổ chức của trường. Còn Hội đồng quản trị, theo Luật Giáo dục Đại học,  là cơ quan “đại diện duy nhất cho chủ sở hữu của nhà trường”, theo đó, chỉ nên bao gồm những người do Đại hội đồng cổ đông bầu, không có các thành phần khác. Đối với trường phi lợi nhuận đúng nghĩa thì không có Đại hội đồng cổ đông, còn Hội đồng quản trị (hay một tên gọi khác) thì bao gồm nhiều thành phần đại diện khác nhau.

Ngoài ra, theo các quy định hiện hành thì trường vì lợi nhuận được tổ chức theo kiểu gần giống công ty cổ phần. Cơ cấu tổ chức này không phù hợp đối với các trường chỉ có một hai thành viên góp vốn. Vì vậy, cần có thêm điều khoản quy định phù hợp hơn cho trường hợp này. 


Luật sư Nguyễn Kiều Hưng- luật sư điều hành hãng luật Giải Phóng (TP.HCM). Ảnh: Tú Quyên

Theo Luật sư Nguyễn Kiều Hưng- luật sư điều hành hãng luật Giải Phóng (TP.HCM), để đảm bảo tính ổn định, chất lượng đào tạo và hạn chế những tranh chấp của các trường ĐH-CĐ ngoài công lập, Luật cần điều chỉnh theo hướng: Việc bổ nhiệm chức danh Hiệu trưởng đều cần phải được chủ tịch UBND cấp tỉnh công nhận, nhưng phải đảm bảo được Hiệu trưởng do HĐQT giới thiệu, đề cử nhưng không phải do bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm. Khi rơi vào một số trường hợp cần bãi miễn thì HĐQT kiến nghị và kèm theo nhân sự giới thiệu mới. Chủ tịch UBND căn cứ vào đó để quyết định, nếu quyết định của UBND không thoả đáng, Nhà trường có thể kiện chủ tịch UBND cấp tỉnh ra toà hành chính. Nếu có căn cứ cho thấy Hiệu trưởng đương nhiệm có thể làm ảnh hưởng đến hoạt động của nhà trường, trong thời gian có kiến nghị cần chỉ định người có quyền Hiệu trưởng điều hành hoạt động nhà trường. Để tiến hành những thủ tục trên thì phải cần đến con dấu, cho nên pháp luật cũng cần dự liệu, khi con dấu bị chiếm giữ, thất lạc sẽ có giải pháp xử lý tương ứng.

Ngoài ra pháp luật cũng cần Điều chỉnh những điểm chưa phù hợp giữa Quy chế 61, 63 so với Luật Giáo dục ĐH. Các trường hợp miễn nhiệm, bãi nhiệm Hiệu trưởng, cơ chế chỉ định tạm thời quyền Hiệu trưởng. Thủ tục khiếu nại các quyết định hành chính, hành vi hành chính liên quan đến thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm các chức danh cần sự công nhận bởi người có thẩm quyền.

H.Vi

BÌNH LUẬN

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM