ĐH Quảng Nam ‘cầu cứu’ ĐH Đà Nẵng

Giáo dục
(PL)- Gặp khó trong công tác tuyển sinh, lãnh đạo ĐH Quảng Nam mong muốn trường này trở thành thành viên của ĐH Đà Nẵng.

Những năm gần đây, ĐH Quảng Nam liên tục gặp khó trong công tác tuyển sinh. Tỉ lệ tuyển sinh thấp hơn nhiều so với chỉ tiêu. Năm 2019 trường này chỉ tuyển được 215 sinh viên, tổng số sinh viên hệ chính quy của trường khoảng 2.000. Trong khi đó, số cán bộ, giảng viên trong trường lên đến 260 người, tỉ lệ khá cao so với số lượng sinh viên hiện đang theo học. Nhiều cán bộ, giảng viên thiếu việc làm, thu nhập giảm sút, thậm chí phải xin nghỉ việc.

Năm 2018, Trường ĐH Quảng Nam phải hoàn trả ngân sách 963 triệu đồng. Đến năm 2019, ngân sách của trường này giảm gần 3 tỉ đồng so với năm trước do số lượng sinh viên quá ít.

Đứng trước bài toán tuyển sinh đầy khó khăn nói trên, mới đây tại buổi làm việc giữa UBND tỉnh Quảng Nam và ĐH Đà Nẵng về dự án làng ĐH Đà Nẵng và định hướng phát triển của ĐH Quảng Nam, PGS-TS Huỳnh Trọng Dương (Hiệu trưởng Trường ĐH Quảng Nam) mong muốn nâng tầm ĐH Quảng Nam lên thành ĐH khu vực và là thành viên của ĐH Đà Nẵng.

Cũng tại buổi làm việc này, PGS-TS Nguyễn Ngọc Vũ (Giám đốc ĐH Đà Nẵng) cho rằng đây là chủ trương khá phù hợp với xu hướng.

Tuy nhiên, PGS-TS Vũ cho hay đây là việc rất lớn, liên quan đến tài sản, con người và Thủ tướng Chính phủ mới có thể quyết định. Do đó, PGS-TS Vũ cho biết sẽ bàn lại với Ban Thường vụ ĐH Đà Nẵng, xin ý kiến của bộ và sẽ làm việc bàn về vấn đề này.

THANH NHẬT

BÌNH LUẬN

lequi

Biểu hiện này cho thấy cấu truc lại hệ thống cơ sở GDĐH cho phù hợp và giữ mối liên lệ với các tổ chức khoa học, Hiệp hội nghề nghiệp, DN và người dân thoe từng vùng kinh tế, theo yêu cầu đô thị hóa, CN 4. 0, nông nghiệp, nông dân, nông thôn, phát triển bền vững là cấp thiết. Nghĩa là không phải quan tâm nhiều đến các cơ sở yếu kém có sản phẩm chuẩn đầu ra, tri thức, kỹ năng, năng lực không đáp ứng nhu cầu XH mà tập trung vào XD hệ thống cơ sở bao gồm lĩnh vực ngành nghề phù hợp với xu thế toàn cầu hóa, CN hóa, nghiên cứu sâu, theo từng vùng kinh tế làm xương sống phát triển GDĐH, từ đó thúc đẩy tiến trình liên kết chia sẽ tận dụng toi đa nguồn lực, CSVC, đối tượng người học trúng với năng lực sở trường yêu cầu công việc. VD TPHCM, sẽ đào tạo, nghiên cứu sâu ở đẳng cấp quốc tế các lĩnh vực CN chế tạo, CNTT,AI, KTĐT…. Cần Thơ sẽ đạo tạo, nghiên cứu chuyên sâu về KTNN, Chuỗi cung ứng, giá trị NN, SX, thu gom, vận chuyển, bảo quản, chế biến sâu SPNN và khi đó liên kết chia sẽ sẽ là nếu vùng KTTĐ phía nam có nhu cầu đào tạo về nông nghiệp thì Cần Thơ sẽ đảm nhận chia sẽ từ CSVC, GV, giáo trình, chuẩn đầu ra, … ngược lại để phục vụ cho Đô thị hóa, phát triển KTĐT thì vùng ĐBSCL sẽ liên kết với TPHCM để đào tạo…như vậy chúng ta sẽ gắn kết được thị trường cung ứng và tiêu thụ, ĐBSCL sẽ tiêu thụ SP công nghệ và nhân lực chất lượng cao, cấp độ chuyên gia từ TPHCM, ngược lại TPHCM sẽ là thị trường của hàng hóa nong sản, nhân lực lành nghề của vùng ĐBSCL. Bên cạnh đó là những ngành đặc thù như AN, QP, tài nguyên, Địa chất, kinh tế biển, không gian vũ trụ… Phân luồng HS từ bậc THCS có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong định vị chất lượng nhân lực, việc làm và thu nhập và nếu quy định 6 tuổi vào lớp 1 thì có thể không bậc THCS sẽ giống như Australia, bậc THPT chỉ là 2 năm để khi các em hoàn thành THCS sẽ đúng vào độ tuổi 15 và thông qua hoạt động hướng nghiệp, bản thân các em, gia đình cùng với sự trợ giúp của các ngành trong hệ sinh thái GDPT, GDNN giúp đở, các em có được sự lực chọn đúng tránh lãng phí cho XH. Vấn đề di cư, lao động bị sa thải và trẻ em phụ thuộc vào đối tượng này có liên quan rất nhiều đến ngành GD&ĐT, GDNN và theo tui chúng ta cần phải có chính sách linh hoạt để hỗ trợ VD người lao động di cư, dịch chuyển tư do, không biên giới, vậy khi họ tham gia học nghề hoặc đào tạo lại tại địa phương họ làm việc mà không phải nơi thường trú thì địa phương nơi họ thường trú sẽ thực hiện các chính sách hỗ trợ họ giống như các đối tượng người học đang thường trú học tại địa phương, làm như vậy là rất nhân văn và hiệu quả, nâng cao được chất lượng, tỷ lệ LĐ qua đào tạo phục vụ đắc lực cho sự phát triển bền vững của đất nước và tui cho đây chính là hoạt động ủy thác, chia sẽ trong đào tạo khi cấu truc hệ thống GDNN theo vùng kinh tế nhưng trước tiên là vấn đề nhân khẩu học, giữ mối liên hệ với người lao động, di cư, địa phương nơi LĐ di cư đến

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM