Việt Nam ứng phó với vấn đề an ninh nguồn nước

Thời sự

Việt Nam ứng phó với vấn đề an ninh nguồn nước

(PL)- Việt Nam chịu rủi ro về lượng nước, chất lượng nước do các quốc gia thượng nguồn gia tăng các hoạt động thủy điện trên dòng chính sông Hồng, sông Mê Kông…

Bản tin liên quan

Sáng 17-8, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường (KH, CN&MT) của Quốc hội tổ chức hội nghị giải trình về vấn đề an ninh nguồn nước phục vụ sản xuất, sinh hoạt và quản lý hồ, đập.

Thách thức do phụ thuộc vào nguồn nước ở bên ngoài

Tại hội nghị, Phó Chủ nhiệm Ủy ban KH, CN&MT Nguyễn Vinh Hà cho hay nguồn nước của ta phụ thuộc lớn vào nguồn nước sông liên quốc gia. “Chúng ta chịu rủi ro về lượng nước, chất lượng nước rất lớn do các quốc gia thượng nguồn gia tăng các hoạt động thủy điện trên dòng chính sông Hồng, sông Mê Kông làm thay đổi lớn chế độ dòng chảy, lượng nước phù sa…” - ông Hà nói.

Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường cũng khẳng định “nguồn nước đổ về Việt Nam phụ thuộc nhiều vào lượng nước sản sinh từ bên ngoài lãnh thổ là thách thức lớn đối với an ninh nguồn nước quốc gia”.

Cạnh đó, trên thượng nguồn sông Đà, sông Thao, sông Lô thuộc lãnh thổ nước ngoài đã xây dựng nhiều bậc thang hồ chứa thủy điện, hiện đã đưa nhiều công trình vào vận hành nên tác động đến biến đổi dòng chảy về nước ta. Cùng với đó, tại vị trí các con sông đổ vào lãnh thổ Việt Nam, nước đã bắt đầu bị ô nhiễm. Nghiên cứu của Hội đồng Ủy hội sông Mê Kông quốc tế năm 2017 công bố, dự kiến lượng phù sa về đồng bằng sông Cửu Long có thể giảm 97% ở thời điểm năm 2040.

Trước thực trạng trên, ông Nguyễn Mạnh Tiến, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại, hỏi: “Việc hợp tác quốc tế của chúng ta đã đủ tích cực, chủ động chưa? Việc tham gia các điều ước quốc tế đã góp phần bảo đảm an ninh nguồn nước chưa?”.

Còn Bộ trưởng TN&MT Trần Hồng Hà cho biết các thỏa thuận pháp lý quốc tế hiện “hết sức lỏng lẻo và hoàn toàn tự nguyện”, chủ yếu mang tính chất tham vấn và tôn trọng quyền độc lập, tự chủ của mỗi nước. “Có hai nước quan trọng nhất nằm trên lưu vực sông Mê Kông là Trung Quốc và Myanmar nhưng họ lại không tham gia Ủy hội sông Mê Kông” - ông Hà nói thêm. 


Cùng với nước biển dâng 1 cm/năm thì khả năng chỉ sau 25 năm, đa phần diện tích Cà Mau sẽ xấp xỉ mặt nước biển. Trong ảnh:  Người dân sống bằng nghề đóng hàng đáy trên sông Cửa Lớn (Cà Mau). Ảnh: HOÀNG GIANG

Bốn tại chỗ song song với hợp tác quốc tế

Trong bài phát biểu kết luận hội nghị, Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển nhấn mạnh tới tám nhiệm vụ cần làm trong thời gian tới. Đáng chú ý, để chủ động nguồn nước, không bị phụ thuộc nước ngoài thì cần thực hiện phương châm bốn tại chỗ: Sinh thủy tại chỗ; giữ nước tại chỗ; bảo vệ tại chỗ; điều hành, vận hành, phân phối tại chỗ.

3.500 con sông, suối chảy trên đất Việt Nam. Chiều dài trung bình của mỗi con sông, suối đó là từ 10 km trở lên; tạo ra 13 lưu vực sông với diện tích lớn hơn 10.000 km2. Cạnh đó, bảy lưu vực sông liên quốc gia, phần lưu vực ở nước ngoài chiếm tới 71% và lại ở khu vực đầu nguồn.  

Song song, ông Hiển nhấn mạnh tới việc tăng cường quan hệ quốc tế với các tổ chức, các nước trong khu vực, ký kết và thực hiện các hiệp định để bảo vệ môi trường, bảo vệ lưu vực sông, phối hợp điều hòa nguồn nước hợp lý, hạn chế mức cao nhất sự tác động của con người tự nhiên làm phá hoại môi trường tự nhiên, nhất là đối với lưu vực sông Mê Kông và sông Hồng. Cụ thể, cần tiếp tục thực hiện tốt các hiệp định hợp tác phát triển bền vững lưu vực sông Mê Kông năm 1995 giữa Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, hiệp định về quy chế sử dụng nước dọc biên giới giữa Việt Nam, Campuchia, hợp tác Mê Kông - Lan Thương…

“Cần khẳng định rằng chỉ có tăng cường hợp tác quốc tế chúng ta mới có thể đảm bảo an ninh nguồn nước và an toàn hồ đập” - ông Hiển nói. Cuối cùng, Phó Chủ tịch Quốc hội đề nghị Ủy ban KH, CN&MT cần kiến nghị với Ủy ban Thường vụ Quốc hội giao Chính phủ sớm xây dựng đề án phát triển và đảm bảo an ninh nguồn nước, an toàn hồ đập giai đoạn 2021-2030 và tầm nhìn năm 2045 trình Quốc hội xem xét sớm nhất.

Sẽ có nhiều vùng đất ngập chìm trong nước

Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển cho hay một kịch bản xấu có thể xảy ra là đến năm 2050, nước biển dâng theo toàn dải ven biển Việt Nam từ 21 cm đến 25 cm và có khả năng đến năm 2100 sẽ là từ 44 cm đến 73 cm.

Đó là chưa kể nước dâng do bão, do thủy triều ven bờ, do sụt lún đất vì khai thác nước ngầm quá mức. “10% đồng bằng sông Hồng, 15% đồng bằng sông Cửu Long, 14% TP.HCM và từ 20% đến 30% diện tích đất của Thái Bình, Nam Định, Hậu Giang, Cà Mau cuối thế kỷ này có thể ngập nước, ảnh hưởng đến sinh kế của 20 triệu người dân và hàng trăm ngàn doanh nghiệp” - ông Hiển nói.

Cũng theo ông Hiển, thực tế khảo sát cho thấy tỉnh Cà Mau là vùng đất thấp, đa phần chỉ cao hơn nước biển có 0,5 m nhưng liên tục bị lún với tốc độ từ 1 cm đến 2 cm/năm. Cùng với nước biển dâng 1 cm/năm thì khả năng chỉ sau 25 năm, đa phần diện tích Cà Mau sẽ xấp xỉ mặt nước biển.  

ĐỨC MINH

BÌNH LUẬN

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM