Hệ quả của chính sách duy số lượng

LÊ MINH TIẾN
LÊ MINH TIẾN
Thứ Ba, ngày 6/1/2015 - 06:50

(PL)- Câu chuyện nhiều cử nhân ra trường gặp khó khăn trong việc tìm kiếm công ăn việc làm đã diễn ra vài năm qua và có lẽ sẽ còn diễn ra trong tương lai, ít nhất là trong ngắn hạn.

Đã có nhiều người biện lý giải bình luận về hiện tượng này và phần lớn các ý kiến khi lý giải hiện tượng cử nhân thất nghiệp đều quy cho chất lượng đào tạo thấp của các trường CĐ-ĐH hiện nay.

Thoạt nhìn việc quy trách nhiệm cho các trường CĐ-ĐH có vẻ rất hợp lý bởi các cử nhân, kỹ sư chính là sản phẩm trực tiếp của các trường. Tuy nhiên, theo chúng tôi, việc các trường CĐ-ĐH đào tạo kém chất lượng, các cử nhân, kỹ sư ra trường khó kiếm việc làm đều là hệ quả của một yếu tố khác quan trọng hơn đó là việc hoạch định chính sách giáo dục ĐH của Bộ GD&ĐT đã được tư duy trên nền tảng của các con số duy ý chí và đã bỏ qua một loạt những yếu tố kinh tế-xã hội khác.

Thật vậy lâu nay hình như việc xác định chỉ tiêu đào tạo ĐH chỉ dựa vào một yếu tố duy nhất đó là tỉ lệ sinh viên (SV) trên một vạn dân và chúng ta cố gắng làm sao để có tỉ lệ SV trên số dân tương đương với các nước phát triển. Chính vì vậy mà có ý kiến cho rằng số lượng cử nhân, kỹ sư hiện nay của chúng ta vẫn chưa đạt đủ chỉ tiêu xét theo tỉ lệ người có trình độ này trên một vạn dân. Sau khi xác định chỉ tiêu người có trình độ ĐH cần có trên một vạn dân thì Bộ GD&ĐT tiến hành phân bổ chỉ tiêu đào tạo cho các trường dựa trên hai tiêu chí đó là diện tích đất và số lượng giảng viên.

Như vậy chúng ta thấy cách xác định số lượng SV và phân bổ chỉ tiêu đào tạo hoàn toàn không quan tâm đến hiện trạng kinh tế-xã hội của đất nước. Thật thế dù dân số chúng ta đông nhưng khoảng 70% là dân cư thuộc khu vực nông thôn, mà hoạt động nông nghiệp của chúng ta vốn không đòi hỏi phải có tỉ lệ người có bằng ĐH cao như cách chúng ta muốn đạt được. Mặt khác, nền kinh tế của chúng ta hiện nay và trong tương lai gần chủ yếu là công nghiệp lắp ráp, gia công vốn chỉ đòi hỏi lao động có tay nghề chỉ ở bậc trung cấp nghề chứ chưa chuyển hẳn qua nền kinh tế thương mại, dịch vụ, tài chính đòi hỏi nhiều lao động có bằng ĐH. Trong khi đó, cơ quan chủ quản gần như đều đồng ý cho các trường CĐ-ĐH đào tạo những ngành thuộc nhóm thương mại, dịch vụ, tài chính chẳng hạn như có đến hơn 300 trường CĐ-ĐH cả nước có đào tạo ngành quản trị kinh doanh, kế toán, tài chính ngân hàng. Như vậy việc các SV tốt nghiệp thuộc các nhóm ngành này khó kiếm việc khi ra trường là điều hiển nhiên vì nền kinh tế không thể hấp thu hết nhân lực của ngành này. Mặt khác, các ngành thương mại, dịch vụ, tài chính gần như chỉ đóng khung ở TP.HCM và Hà Nội nên cũng không thể nào “gánh” hết được các cử nhân thuộc nhóm ngành này. Do đó việc SV ra trường làm trái ngành hay làm những công việc không tương xứng với trình độ ĐH là điều có thể dễ dàng hiểu được.

Ngoài ra, cũng không thể không nói đến chất lượng đào tạo. Chúng ta đều biết những người trực tiếp đào tạo SV là các giáo sư, tiến sĩ trong trường ĐH nhưng trong nhiều năm qua, các con số thống kê cho thấy số giáo sư, tiến sĩ của chúng ta rất nhiều nhưng chất lượng không cao mà bằng chứng rõ nhất là số công trình công bố quốc tế của chúng ta chỉ thuộc nhóm thấp trong các nước cùng khu vực, mà việc phong giáo sư, đào tạo tiến sĩ lại là trách nhiệm của Bộ GD&ĐT. Do đó nếu nói cho đúng thì phải nói bằng cấp của chúng ta ngày càng mất giá chứ không phải chỉ có cử nhân bị mất giá.

Vì vậy theo chúng tôi, chúng ta cần phải tư duy lại về vấn đề đào tạo ĐH, đào tạo sau ĐH lẫn việc phong hàm giáo sư. Nếu cứ vẫn điều chỉnh kiểu chắp vá như thời gian qua thì mọi chuyện vẫn không cải thiện được bao nhiêu.

LÊ MINH TIẾN

Đọc nhiều

Tiện ích

Tin mới

Danh mục