Quyền im lặng là quyền con người

Chính trị

Quyền im lặng là quyền con người

(PL)- Luật hóa quyền im lặng là một yêu cầu cấp bách cần được thực hiện sớm.

Bản tin liên quan

Ngày 3-10, tại hội thảo khoa học “Triển khai thi hành Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013” do Trường ĐH Luật TP.HCM tổ chức, TS Võ Thị Kim Oanh - Trưởng khoa Luật hình sự (Trường ĐH Luật TP.HCM) đưa ra nhiều ý kiến đáng lưu tâm về quyền im lặng, vấn đề đang gây tranh cãi gần đây.

Luật hóa quyền im lặng: Yêu cầu cấp bách

Theo TS Oanh, mặc dù pháp luật hiện hành ghi nhận “trình bày lời khai” là quyền của người bị tạm giữ, bị can nhưng việc không chính thức thừa nhận quyền im lặng của bị can, bị cáo dễ dẫn đến những hành vi tiêu cực như bức cung, nhục hình… Mặt khác, người bị buộc tội cũng không có quyền được từ chối cung cấp lời khai hoặc từ chối bị hỏi cung khi không có người bào chữa cũng là một điểm hạn chế. Bởi lẽ với sự tham gia của người bào chữa trong quá trình lấy lời khai cũng như khi hỏi cung sẽ đảm bảo tâm lý cho người bị buộc tội, hoạt động lấy lời khai sẽ có hiệu quả cao, đồng thời có sự giám sát của người bào chữa đối với điều tra viên.

“Chính thức ghi nhận quyền im lặng của người bị buộc tội trong Bộ luật Tố tụng hình sự cũng như ghi nhận quyền từ chối cung cấp lời khai hoặc bị hỏi cung khi chưa có người bào chữa là phù hợp với công ước quốc tế. Đây là một yêu cầu cấp bách cần được thực hiện” - bà Oanh đề xuất.

TS Võ Thị Kim Oanh, Trưởng khoa Luật hình sự (Trường ĐH Luật TP.HCM), phát biểu tại hội thảo. Ảnh: PHƯỚC THÔNG

Trao đổi thêm với Pháp Luật TP.HCM, TS Oanh khẳng định quyền im lặng là một trong những quyền để thực hiện quyền bào chữa, quyền im lặng là một bộ phận cấu thành của quyền bào chữa. Để bảo đảm quyền bào chữa phải có quyền im lặng. Theo TS Oanh, đã nằm trong nhóm quyền bào chữa thì quyền im lặng phải nằm trong nhóm quyền con người, quyền công dân.

Theo TS Oanh, quyền bào chữa chỉ đảm bảo được khi chúng ta củng cố các quyền cơ bản cho chủ thể bị buộc tội, mà cụ thể là của bị can, bị cáo. Vì vậy, phải luật hóa bằng cách quy định quyền im lặng trong quyền của bị can, bị cáo.

Đảm bảo công bằng

TS Lương Thị Mỹ Quỳnh, giảng viên khoa Luật hình sự, cho rằng quyền im lặng xuất phát từ một nền tảng lý luận phải đảm bảo cho người tham gia tranh tụng có quyền được đối xử công bằng. Cho nên cần phải có bên thứ ba để giải quyết. Bên thứ ba này yêu cầu phải đảm bảo một tiêu chí đó là sự công bằng. Vì “nhìn ở góc độ toàn cảnh đó, chúng ta sẽ thấy rằng vị trí của người bị buộc tội trong quá trình xử lý tội phạm sẽ được xem là yếu thế. Bởi vì anh phải đối diện với sự cáo buộc của hệ thống cơ quan có thẩm quyền có công cụ trong tay để chứng minh rằng anh ta phạm tội” - TS Quỳnh nói. Vì vậy, theo TS Quỳnh, sự yếu thế này cần phải được hỗ trợ của chủ thể đại diện cho họ để thực hiện việc đảm bảo quyền chính đáng của mình trước sự cáo buộc của cơ quan tố tụng.

Tiến sĩ Quỳnh cũng khẳng định nhiều nước trên thế giới đều nhìn nhận rằng có một nguyên tắc chung đảm bảo quyền có người bào chữa đối với người bị buộc tội, xuất phát từ nguyên tắc xét xử công bằng. Không chỉ xét xử công bằng tại phiên tòa mà còn là quyền được phán quyết công bằng trong quá trình chứng minh tội phạm.

Các nhà khoa học tại hội thảo khuyến nghị rằng cần phải đảm bảo cho người bị buộc tội có người bào chữa ngay tại thời điểm mà họ bị cáo buộc. Đồng thời cơ quan tố tụng phải đảm bảo cho người bị buộc tội được quyền tiếp cận đối với người bào chữa của mình.

TÁ LÂM

BÌNH LUẬN

Single Firefly

To Cao Thắng: xin hỏi bạn, ông đại diện dân nào, tên gì mà lại nói rằng Quyền im lặng không phải là quyền của con người! Nếu không phải là quyền của con người thì là quyền của ... con gì? Đại diện dân mà như vậy thì đáng thất vọng quá!

Trần Cao Thắng

Mới đây trên tivi có ông tiến sỹ luật, phó viện trưởng viện khoa học kiểm sát, đại biểu Quốc hội, nói quyền im lặng không phải là quyền con người.????






Thắng


Khi hỏi cung, bị can, bị cáo sợ lời ‘cảnh cáo’ của cán bộ điều tra mà không dám nói thật.

Để quản lý tốt hơn tình trạng này, theo tôi phải thay đổi cơ bản về cơ chế ban hành văn bản pháp luật, quản lý tạm giam, tạm giữ, điều tra, truy tố và xét xử.

Cụ thể như:

Thứ nhất: Việc soạn thảo, ban hành các văn bản pháp luật liên quan do một Uỷ ban chuyên trách, độc lập và trực thuộc Quốc Hội (có thể tham khảo, lắng nghe ý kiến của Bộ công an nhưng độc lập quyết định nội dung trình Quốc Hội xem xét thông qua).

Thứ hai: Cơ quan quản lý tạm giam, tạm giữ trực thuộc Bộ Tư pháp, bảo đảm tính kiểm soát chéo giữa hai cơ quan nhà nước.

Thứ ba: Chi tiết hoá các trường hợp làm cơ sở cho Luật sư kiến nghị
VKS điều tra lại. Nếu VKS không điều tra lại theo yêu cầu của Luật sư thì có hình thức chế tài với Viện kiểm soát đó.

Thứ tư: Cán bộ điều tra phải là một bên tham gia tố tụng tại phiên toà khi Toà án, VKS, Luật sư có yêu cầu.

Thứ năm: Toà án, VKS, Cơ quan điều tra phải độc lập với nhau. Lãnh đạo các cơ quan này không thể ảnh hưởng đến nhân sự của cơ quan kia. Từng cá nhân của Toà án, VKS, Cơ quan điều tra chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi của mình mà không lo ngại lãnh đạo cơ quan kia có thể dùng ảnh hưởng để gây thiệt hại cho họ trong công việc, cuộc sống và gia đình.

Thứ sáu: Bảo đảm cho Thẩm phán hoàn toàn độc lập xét xử và có chế tài chi tiết để Thẩm phán phải chịu trách nhiệm trực tiếp với phán quyết của mình. Thẩm phán không bị chi phối bởi người có thẩm quyền đề cử hay bổ nhiệm họ. Để làm điều này thì thẩm phán phải được đề cử và bổ nhiệm bởi tập thể đủ đông người, nhiều thành phần (để không cá nhân hay nhóm nhỏ các cá nhân nào có thể dùng ảnh hưởng của riêng mình trong việc quyết định đề cử, bổ nhiệm/tái bổ nhiệm thẩm phán.)

Tôi tin rằng với chủ trương nhất quán ‘của dân, do dân và vì dân’ thì Đảng, Nhà nước sẽ cương quyết hiện thực hoá chủ trương này.

Không có gì thuyết phục người dân tốt hơn bằng việc chứng minh trên thực tế.
LSư Lê Minh Thắng

Minh Tâm

Trên lý luận, sau giai đoạn khởi tố bị can mới là giai đoạn chứng minh tội phạm, tài liệu, chứng cứ thu thập được ở giai đoạn này mới phù hợp với trình tự tố tụng hình sự, tài liệu, chứng cứ trước đó có giá trị tham khảo.
Tuy nhiên, trên thực tế và quan điểm vận dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự thì tài liệu, chứng cứ thu thập trước khi khởi tố mới mang tính quyết định việc chứng minh tội phạm. Việc hỏi cung sau đó chủ yếu chỉ mang tính thủ tục.
Cho nên, biện pháp chống oan sai, chống bức cung, nhục hình cần chú ý nhiều đến giai đoạn xác minh tin báo, tố giác tội phạm. BLTTHS chưa quy định chặt chẽ trình tự, thủ tục, biện pháp xác minh tin báo, tố giác tội phạm. Vai trò của VKS trong giai đoạn xác minh cũng còn mờ và đặc biệt, Luật sư không có quyền tham gia trong giai đoạn này.
Tôi đã từng phản đối việc giao trách nhiệm cho công an cấp xã xây dựng hồ sơ có dấu hiệu hình sự ban đầu. Điều này rất dễ bỏ lọt tội phạm, gây khó khăn cho việc chứng minh tội phạm sau này và cũng rất dễ làm oan người vô tội hoặc người vi phạm chưa đến mức phạm tội.
Đề nghị Quốc hội cần nhận rõ bản chất khoảng cách giữa lý luận và thực tiễn nêu trên.

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM