Đáp án kỳ 15: Luật chung chung, trẻ có đến hai cha

PLO

Đáp án kỳ 15: Luật chung chung, trẻ có đến hai cha

(PL)- Tình huống kỳ 15 tuy khó xảy ra trong thực tế nhưng lại thu hút hơn 2.300 đáp án gửi về cho chương trình.

Bản tin liên quan

 TS. Nguyễn Văn Tiến- Trưởng Bộ môn Luật tố tụng dân sự - Hôn nhân và gia đình, ĐH Luật TP.HCM trả lời đáp án À Ra Thế kỳ 15. Thanh Tùng thực hiện

Trong đó, phần lớn đáp án hoặc xác định anh A hoặc xác định anh C là cha đứa bé. Chỉ có số ít đáp án xác định cả A và C đều có thể là cha của đứa bé. Với tình huống kỳ này đã chứng minh số đông không phải lúc nào cũng đúng.

Khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và Gia đình (LHNGĐ) 2014 quy định: “Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng”. Như vậy, em bé được người phụ nữ sinh ra trong thời kỳ hôn nhân và em bé do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân đều được xác định là con chung của vợ chồng đó. Theo tình huống, em bé được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân giữa chị B với anh C nên theo quy định trên, anh C chính là cha.

Nếu chỉ dừng lại ở đó thì chắc chắn các chuyên gia của À Ra Thế đều giải đáp được tình huống này. Thế nhưng cũng khoản 1 của điều luật trên còn quy định: “Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân. Quy định này chính là điểm mấu chốt của tình huống kỳ 15, giúp À Ra Thế chọn được những chuyên gia pháp luật xuất sắc nhất.

Theo tình huống, anh A và chị B ly hôn vào ngày 15-5-2015 và chị B sinh em bé vào ngày 15-1-2016 (tổng cộng tám tháng) nên có thể xác định em bé “được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân”. Từ đó cũng xác định được em bé là “con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhânvới anh A. Đối chiếu giữa quy định của khoản 1 Điều 88 LHNGĐ 2014 với tình huống này, cả anh A cũng được xác định là cha của em bé.

Như vậy, nhiều bạn đọc sẽ thắc mắc: “Chẳng lẽ cả anh A và anh C đều là cha của đứa nhỏ?”. Quả thật là vậy, À Ra Thế đã rà soát các quy định pháp luật hiện hành cũng như các văn bản hướng dẫn và thấy rằng trường hợp này cả anh A và anh C đều được xác định là cha của đứa trẻ vì đều thỏa mãn với quy định của khoản 1 Điều 88 LHNGĐ 2014.

Vậy nếu trong thực tế xảy ra tình huống tương tự thì sao? Thực ra câu hỏi này không khó, theo Luật Hộ tịch 2014 và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch thì: “Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày sinh con, cha hoặc mẹ có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho con…”. Như vậy, thực tế sẽ tùy thuộc vào việc người đàn ông nào thực hiện đăng ký khai sinh cho đứa bé thì sẽ được xác định là cha đứa bé. Nếu người còn lại cũng nhận đứa trẻ là con của mình và xảy ra tranh chấp thì LHNGĐ 2014 cũng đã dự liệu điều này. Khoản 1 Điều 89 quy định: “Người không được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu tòa án xác định người đó là con mình”. Nếu hai người đàn ông cùng cho rằng mình là cha ruột của đứa bé thì có quyền khởi kiện yêu cầu tòa án xác định cha cho con. Lúc này, kết quả giám định ADN chính là chìa khóa để giải quyết vấn đề.

Do tình huống chỉ dừng lại ở việc tranh cãi giữa A và C nên đáp án À Ra Thế kỳ 15 là: Cả A và C đều có thể được xác định là cha của đứa bé.

À Ra Thế xin chúc mừng những bạn đọc có đáp án trùng với đáp án trên. Những bạn đọc có đáp án khác xin hãy tiếp tục tham gia giải đố ở các kỳ tiếp theo với tinh thần “Không được giải cũng được luật” nhé.

Con số may mắn kỳ này sẽ được công bố đến quý bạn đọc vào ngày thứ Tư 9-11 kèm theo danh sách năm bạn đọc xuất sắc nhất.

BAN TỔ CHỨC

BÌNH LUẬN

Trang Ha Lam

Mình không đồng ý việc đứa trẻ sẽ có hai cha bởi căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân gia đình 2014 thì một trong những nội dung đăng kí khai sinh sẽ bao gồm thông tin của cha, mẹ người được đăng kí khai sinh. Đồng thời theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Nghị định 123/NĐ-CP hướng dẫn Luật hộ tịch có đề cập đến các loại giấy tờ nộp và xuất trình khi đăng ký khai sinh thì trong trường hợp cha, mẹ của trẻ đã đăng kí kết hôn thì còn phải xuất trình giấy chứng nhận kết hôn. Do đó có thể thấy rằng trong tình huống này anh A mặc dù thuộc quy định Điều 88 Luật hôn nhân gia đình nhưng khi xác định vai trò cha đứa trẻ thể hiện trong giấy khai sinh anh sẽ không thể nào được công nhận bởi lúc này chỉ có anh C mới là người đăng kí kết hôn với chị A tính đến thời điểm chị sinh con và đồng thời đứa trẻ được sinh ra trong thời kì hôn nhân với anh C nên căn cứ điểm b khoản 1 Điều 14, Điều 88 Luật hôn nhân gia đình 2014và khoản 2 Điều 9 Nghị định 123/NĐ-CP hướng dẫn Luật hộ tịch thì anh C mới là cha của đứa trẻ xét về mặt pháp lý. Riêng đối với anh A thì nếu anh cho rằng đây là con mình thì vẫn có thể thực hiện yêu cầu Tòa án có thẩm quyền xác định cha, mẹ, con trong trường hợp có tranh chấp ai sẽ là cha đứa trẻ theo quy định tại Khoản 1 Điều 89 và khoản 2 Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Anh Tưởng

Phản biện lại đánh giá "số đông chưa hẳn đã đúng"! Chân lý phải được đúc kết qua lý luận, phản biện, phân tích,... Và xã hội thừa nhận, thậm chí thực tiễn phải chứng minh mới là đúng đắn! Tôi không đồng ý với Đáp án trẻ có 02 người cha! Xét về mặt khoa học theo đáp án thì đứa trẻ lại mang 03 loại gen của chị B và anh A, anh C, điều này là chưa có cơ sở khoa học! Thứ hai pháp luật hôn nhân và gia đình hiện hành không có điều, khoản nào nói anh A và anh C cùng là cha đứa trẻ! Mà đáp án phải là chưa xác định được cha đứa trẻ là ai (do pháp luật quy định còn chung chung chưa rõ ràng)! Nếu muốn xác định rõ ràng (vì vẫn còn có tranh chấp cả về mặt pháp luật và thực tế giữa anh A và anh C) phải thông qua thủ tục xác định cha con tại cơ quan có thẩm quyền là Tòa án nhân dân theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Bộ luật Dân sự và Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành! Tòa án căn cứ vào kết quả giám định ADN để ra phán quyết ai là cha! Khi nào bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực mới là đáp án cuối cùng của tình huống này!

Hưng Nguyễn

Đáp án đứa trẻ có 2 người cha hợp pháp là đúng. Còn anh đòi giám định ADN, nếu người mẹ không cho đi giám định thì anh làm gì được? Tòa án cũng không thể ép buộc, hoặc cưỡng chế, hoặc dẫn giải em bé đi lấy mẫu ADN được nhé. Nếu tôi là mẹ, tôi cứ giữ em bé suốt ngày, cho người trông coi, không cho ai đến gần cũng như không cho ai đưa đi lấy mẫu ADN thì bạn làm gì được?

Quang Vinh

ADN chỉ giúp xác định "người cha sinh học" của đứa trẻ chứ không xác định "người cha theo pháp luật" được. Nếu cứ đồng nhất cha theo sinh học và cha theo luật pháp thì sẽ không xử lý được những đứa trẻ thụ tinh nhân tạo... Chuyện "Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân” có giá trị khi người vợ yêu cầu trách nhiệm của người chồng trước trong việc nuôi con, chứ không là yếu tố đương nhiên xác định quyền làm cha của người chồng trước. Nếu thử ADN có thể xác định được "người cha sinh học" trong trường hợp này và có thể xác định chính xác đó có phải là đứa con sinh học của người chống trước hay không NẾU NGƯỜI VỢ YÊU CẦU TRÁCH NHIỆM NUÔI DƯỠNG TỪ NGƯỜI CHỒNG TRƯỚC.

hung

Xét nghiệm ADN là nhanh nhất, đơn giản nhất nhé

Hưng Nguyễn

Nếu người Mẹ không đồng ý cho xét nghiệp ADN thì tòa án làm gì được?

Nguyễn Hưng

Đáp án cả 2 người đều là cha thì đúng, nhưng khi bàn thêm chuyện xác định ADN thì không đúng rồi. Cái này phải căn cứ vào khoản 2 điều 30 Nghị định 126/2014/NĐ - CP: "Trong trường hợp người được nhận là con chưa thành niên thì phải có sự đồng ý của mẹ hoặc cha, trừ trường hợp mẹ hoặc cha đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự... " do đó A muốn nhận con phải có sự đồng ý của chị B, bởi nếu giải quyết theo hướng A kiện ra tòa đòi xác nhận quyền làm cha, đòi đưa em bé đi xác định mẫu ADN, nhưng chị B không đồng ý cho em bé đi xác định ADN thì sao? (vì chị B đã khẳng định A không phải là cha đứa bé, do đó không đời nào chị B đồng ý cho đi xác định ADN) Lúc này tòa án cũng không thể ép buộc chị B mang em bé đi giám định ADN. Và pháp luật sẽ luôn luôn bảo vệ quan hệ hôn nhân hiện tại của chị B.

Anh Tưởng

Điều 30 Nghị định 126/2014/NĐ - CP: hết hiệu lực rồi nha đồng chí! 123/2015/NĐ-CP -Điều 45. Hiệu lực thi hành... 2. Bãi bỏ các văn bản quy phạm pháp luật và các điều khoản sau đây:... Đ) Từ Mục 1 đến Mục 6 Chương III gồm các điều từ Điều 19 đến Điều 50... Của Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình.

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM