Tám đối tượng lừa đảo chiếm đoạt tài sản lãnh án, bồi thường 110 tỉ đồng

Pháp luật

Tám đối tượng lừa đảo chiếm đoạt tài sản lãnh án, bồi thường 110 tỉ đồng

(PLO)- Sau khi nghị án và mở lại phiên tòa vào chiều 6-10 (trước đó trong hai ngày 28 đến 29-9 đã diễn ra phiên tòa xét xử sơ thẩm), TAND tỉnh Kiên Giang đã tuyên các mức đối với các bị cáo trong vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản. 

Bản tin liên quan



Các bị cáo nghe tòa tuyên án 

Trong đó tòa đã tuyên phạt Trần Hữu Thọ (47 tuổi) với mức án tù chung thân và ra lệnh bắt tại tòa (trước đó cho tại ngoại).

Ngoài ra, bị cáo Huỳnh Văn Trong (58 tuổi) 18 tù giam; Võ Thanh Tuyến (30 tuổi, con rễ Thọ) tám năm tù giam và lệnh bắt tạm giam tại tòa (trước đó cho tại ngoại); Trần Thị Mỹ Chi (25 tuổi - con Thọ) sáu năm tù giam; Lâm Tuấn Phát (35 tuổi) 14 năm tù giam; Phạm Thanh Thủy (36 tuổi - vợ Phát) bảy năm tù giam; Lưu Văn Toàn Thắng (35 tuổi) tám năm tù giam và Võ Phê Rô (40 tuổi) hai năm một tháng sáu ngày tù giam (bằng với thời gian tạm giam).
Ngoài ra, HĐXX TAND tỉnh Kiên Giang còn tuyên buộc các bị cáo liên đới nhau bồi thường cho Nhà nước số tiền hoàn thuế bất hợp pháp gần 110 tỉ đồng. Trong đó, bị cáo Trần Hữu Thọ phải hoàn trả cho Nhà nước số tiền gần 75 tỉ đồng.
Theo cáo trạng, cuối năm 2009, Trần Hữu Thọ, ngụ xã Vĩnh Điều, huyện Giang Thành (Kiên Giang) nhận thấy cơ chế chính sách đối với các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu hàng hóa sang Campuchia có nhiều điểm thông thoáng, nên nảy sinh ý định thực hiện việc xuất khẩu hàng hóa, lập hồ sơ hoàn thuế khống nhằm chiếm đoạt tiền hoàn thuế của Nhà nước.
Thế nhưng, muốn doanh nghiệp hoàn thuế thì phải đứng ra thành lập doanh nghiệp có chức năng xuất khẩu; có mua hàng hóa đầu vào, sau đó tìm đối tác bên Campuchia ký hợp đồng ngoại thương để xuất bán hàng sang Campuchia.
Toàn bộ các chứng từ thể hiện quá trình mua bán, như có hóa đơn hàng hóa mua vào, bán ra; tờ khai hải quan về xuất khẩu hàng hóa; tờ khai hải quan về nhập khẩu phi mậu dịch; chứng từ thanh toán tại ngân hàng… sẽ được sử dụng để lập hồ sơ hoàn thuế theo quy định của cơ quan thuế.
Tuy nhiên, nghiên cứu thực tế, Thọ phát hiện ra nhiều sơ hở trong quá trình hoàn thuế, như việc ký các hợp đồng với đối tác bên phía Campuchia, còn việc bán có đúng đối tác theo hợp đồng hay không thì không có cơ quan, đơn vị nào kiểm tra.
Sau khi nắm được toàn bộ những sơ hở của quy trình hoàn thuế, Thọ tiến hành lập lần lượt ba doanh nghiệp nhằm mục đích chiếm đoạt tiền hoàn thuế của Nhà nước.
Bằng cách thức và quy trình trên, từ tháng 2-2010 đến tháng 7-2013, Thọ đã sử dụng tổng doanh số mua vào của ba doanh nghiệp là trên 816 tỉ đồng; trong đó doanh số mua vào (khống 70%, thật 30%) từ các công ty khác là 681 hóa đơn, tổng trị giá gần 680 tỉ đồng.
Như vậy, Thọ cùng với Võ Thanh Tuyến, Trần Thị Mỹ Chi đã sử dụng toàn bộ doanh số hóa đơn đã mua và doanh số bán lẻ cho người mua không cần hóa đơn rồi xuất khống qua Campuchia với tổng doanh số hơn 1,1 nghìn tỉ đồng, để lập hồ sơ hoàn thuế, được hoàn thuế và chiếm đoạt số tiền hoàn thuế gần 75 tỉ đồng.
Bị cáo Huỳnh Văn Trong, ngụ xã Mỹ Đức, thị xã Hà Tiên cũng có hành vi tương tự như Thọ. Và từ tháng 10-2010 – 6-2013, Trong đã sử dụng tổng doanh số đầu vào trên 126 tỉ đồng để sau đó lập hồ sơ hoàn thuế, được hoàn thuế và chiếm đoạt số tiền trên 35,5 tỉ đồng.
Đối với bị cáo Lâm Tuấn Phát và Phạm Thị Thanh Thủy đã xuất bán cho các doanh nghiệp của Thọ và của Trong để hưởng lợi bất chính trên 18 tỉ đồng.
Lưu Văn Toàn Thắng cũng xuất cho các doanh nghiệp của Thọ để hưởng lợi bất chính số tiền trên 354 triệu đồng; Võ Phê Rô cũng với hành vi tương tự để hưởng lợi 20 triệu đồng (đã nộp tiền khắc phục).

K.GIANG

BÌNH LUẬN

Duong Chinh Law

TỘI DANH: LỪA ĐẢO HAY TRỐN THUẾ ĐỐI VỚI HÀNH VI CHIẾM ĐOẠT TIỀN THUẾ-HOÀN THUẾ
Vụ án: Tám đối tượng lừa đảo chiếm đoạt tài sản lãnh án, bồi thường 110 tỉ đồng http://phapluattp.vn/…/tam-doi-tuong-lua-dao-chiem-doat-tai…
Theo Luật Dương Chính: Hành của các bị cáo trong vụ án này phạm tội trốn thuế- theo quy định tại “Điều 161. Tội trốn thuế" BLHS. Căn cứ:
- Tại Thông tư liên tịch số 10/2013/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC-BTC ngày 26/6/2013 Hướng dẫn một số điều của Bộ luật hình sự về các tội phạm trong lĩnh vực thuế, tài chính-kế toán và chứng khoán, quy định:
“ Điều 1. Về tội trốn thuế (Điều 161 BLHS)
1. Người phạm tội trốn thuế là người thực hiện một trong các hành vi được quy định tại Điều 108 Luật Quản lý thuế, đồng thời thỏa mãn các dấu hiệu được quy định tại Điều 161 BLHS.”
- Tại khoản 4 Điều 108 Luật Quản lý thuế quy định:
“Điều 108. Xử phạt đối với hành vi trốn thuế, gian lận thuế
Người nộp thuế có một trong các hành vi trốn thuế, gian lận thuế sau đây thì phải nộp đủ số tiền thuế theo quy định và bị phạt từ 1 đến 3 lần số tiền thuế trốn:
………
4. Sử dụng hoá đơn, chứng từ bất hợp pháp để hạch toán hàng hoá, nguyên liệu đầu vào trong hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc làm tăng số tiền thuế được miễn, số tiền thuế được giảm hoặc tăng số tiền thuế được khấu trừ, số tiền thuế được hoàn;”
- Tại Điều 161 Bộ luật Hình sự quy định:
“Điều 161. Tội trốn thuế
1. Người nào trốn thuế với số tiền từ một trăm triệu đồng đến dưới ba trăm triệu đồng hoặc dưới một trăm triệu đồng nhưng đã bị xử phạt hành chính về hành vi trốn thuế hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 153, 154, 155, 156, 157, 158, 159, 160, 164, 193, 194, 195, 196, 230, 232, 233, 236 và 238 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ một lần đến năm lần số tiền trốn thuế hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm.
2. Phạm tội trốn thuế với số tiền từ ba trăm triệu đồng đến dưới sáu trăm triệu đồng hoặc tái phạm về tội này, thì bị phạt tiền từ một lần đến năm lần số tiền trốn thuế hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
3. Phạm tội trốn thuế với số tiền từ sáu trăm triệu đồng trở lên hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một lần đến ba lần số tiền trốn thuế"

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM