Hủy án, sửa án hay y án mới đúng?

Pháp luật

 Hủy án, sửa án hay y án mới đúng?

(PL)- TAND tỉnh Đắk Lắk nhận định bị cáo có dấu hiệu phạm tội cố ý gây thương tích nhưng lại xử y án tội làm chết người trong khi thi hành công vụ, đồng thời kiến nghị giám đốc thẩm hủy án. Điều này đúng hay sai?

Bản tin liên quan


LS Nguyễn Thành Công, Đoàn LS TP.HCM:

Tòa Đắk Lắk hủy án mới đúng!


TAND tỉnh Đắk Lắk tuyên y án sơ thẩm tội làm chết người khi thi hành công vụ trong khi nhận định hành vi của bị cáo Lê Viết Hùng (nguyên công an viên) có dấu hiệu phạm tội cố ý gây thương tích dẫn đến chết người” rồi kiến nghị TAND Cấp cao giám đốc thẩm hủy cả hai bản án. Lẽ ra tòa này nên áp dụng khoản 1 Điều 250 BLTTHS hủy án sơ thẩm để điều tra, xét xử lại vì “việc điều tra ở cấp sơ thẩm không đầy đủ mà cấp phúc thẩm không thể bổ sung được”.

Ở giai đoạn xét xử sơ thẩm, dù không đồng ý nhưng TAND huyện Krông Năng vẫn phải xử theo truy tố của VKS vì vướng “giới hạn xét xử” quy định tại Điều 196 BLTTHS. Trước đó, tòa này đã thực hiện hết quyền của mình là trả hồ sơ điều tra bổ sung khi xác định bị cáo có dấu hiệu phạm tội cố ý gây thương tích (dẫn đến chết người) chứ không phải tội làm chết người trong khi thi hành công vụ như VKS đã truy tố.

Vì thế, nếu muốn đổi tội danh để xử nặng hơn tội mà VKS truy tố thì chỉ còn cách TAND tỉnh Đắk Lắk tuyên hủy án sơ thẩm để điều tra, xét xử lại.

Với BLTTHS 2015 (có hiệu lực thi hành vào ngày 1-7 tới) thì quy định về giới hạn xét xử đã thay đổi cơ bản, tăng hẳn quyền cho tòa án cấp sơ thẩm. Khi tòa trả hồ sơ để điều tra bổ sung về tội danh nặng hơn mà VKS vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố tội cũ thì tòa có quyền xét xử ở tội nặng hơn (khoản 3 Điều 298 BLTTHS 2015). Đây là điểm mới rất quan trọng của lần sửa đổi BLTTHS lần này, giải quyết được các trường hợp xung đột về quan điểm mà giao quyền quyết định cao nhất cho tòa án.


Bị cáo Lê Viết Hùng, nguyên công an viên ở huyện Krông Năng, Đắk Lắk, tại phiên tòa phúc thẩm ngày 9-6. Ảnh: NGÂN NGA

LS Trương Xuân Tám, Phó Chủ nhiệm Đoàn LS tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu:

Tòa phúc thẩm có quyền sửa án!


TAND tỉnh Đắk Lắk phải sửa án mới đúng! Theo tôi, TAND tỉnh Đắk Lắk tuyên y án sơ thẩm đồng thời kiến nghị TAND Cấp cao Đà Nẵng hủy án là chưa đúng quy định hiện hành. Bởi căn cứ vào khoản 3 Điều 249 BLTTHS thì trong vụ án này bị hại kháng cáo đòi thay đổi tội danh nặng hơn VKS truy tố. Vì vậy, tòa hoàn toàn có quyền sửa án sơ thẩm, xét xử bị cáo ở tội danh nặng hơn (tội cố ý gây thương tích) mà không hề bị vướng do giới hạn xét xử.

Tòa phúc thẩm tuyên y án dù có kiến nghị hủy bản án sơ và phúc thẩm nhưng người ta có cảm tưởng như là tòa phúc thẩm nhất trí bản án cấp dưới rồi. Vả lại, cấp giám đốc thẩm có quyền hủy án chứ không có nghĩa vụ bắt buộc phải hủy theo kiến nghị của cấp dưới. Giả sử cấp giám đốc thẩm vì lý do nào đó không hủy án, lúc đó vô hình trung tòa phúc thẩm xử trái với nhận thức, quan điểm của mình về tội danh. Khi đó việc khắc phục sẽ rất khó khăn.

LS NGUYỄN THỊ THU THỦY, nguyên Phó Chánh tòa Hình sự TAND TP.HCM:

Hủy án để khỏi đi lòng vòng


Theo tôi, TAND tỉnh Đắk Lắk y án rồi kiến nghị cấp trên hủy án của mình là không cần thiết, tôi nghĩ cách tốt nhất đúng tố tụng là nên hủy án sơ thẩm.

Tôi từng phụ trách xét xử phúc thẩm gần 20 năm, từng xem nhiều bản án TAND Tối cao tại TP.HCM thường hay hủy án theo Điều 250 và sửa án theo Điều 249 BLTTHS. Điều 249 BLTTHS quy định nếu VKS kháng nghị hoặc bị hại kháng cáo đề nghị tăng hình phạt, tăng bồi thường, chuyển tội nặng hơn thì tòa vẫn có thể tuyên sửa án, xử tội danh nặng hơn. Nhưng thực tế cấp phúc thẩm ít làm vậy, bởi làm thế sẽ gây thiệt thòi cho bị cáo khiến bị cáo không còn quyền kháng cáo ở tội danh nặng hơn mà họ vừa bị tòa phúc thẩm xét xử.

Vì thế trong vụ án công an đánh chết dân ở Đắk Lắk, quan điểm của tôi là TAND tỉnh Đắk Lắk nên căn cứ vào Điều 250 BLTTHS để hủy án sơ thẩm của TAND huyện Krông Năng, giao hồ sơ cho cấp sơ thẩm điều tra, xét xử lại.

Ngoài ra, ngành tòa án có quy định thẩm phán nào có án bị hủy là bị ảnh hưởng đến thi đua. Vì thế, tôi lấy làm khó hiểu tại sao các thẩm phán trong HĐXX TAND tỉnh Đắk Lắk lại tuyên y án rồi kiến nghị hủy án của mình (tự mình làm mình bị hủy án). Bởi điều này vừa khiến vụ án phải đi lòng vòng, mất thời gian, vừa có thể bị ảnh hưởng đến thi đua của mình.

Vụ án này báo Pháp Luật TP.HCM từng có nhiều bài phân tích, cho rằng hành vi của bị cáo có dấu hiệu của tội giết người hoặc cố ý gây thương tích dẫn đến chết người. Theo hồ sơ, hơn 12 giờ đêm 3-7-2014, anh Trương Quốc Long nghe có tiếng động, nghi ngờ ông Nguyễn Hữu Thâu vào nhà lấy trộm sắt nên Long đuổi theo và bắt được ông Thâu. Sau đó, công an viên Lê Viết Hùng đã neo giữ ông Thâu lấy lời khai và đánh đập, đến sáng thì ông Thâu hôn mê sâu và tử vong.

Ban đầu, Công an tỉnh Đắk Lắk khởi tố Hùng về tội giết người, sau chuyển sang tội làm chết người trong khi thi hành công vụ và chuyển vụ án về cơ quan tố tụng huyện Krông Năng theo thẩm quyền. TAND huyện này nhận định Hùng có dấu hiệu phạm tội cố ý gây thương tích (dẫn đến chết người) nên trả hồ sơ để điều tra bổ sung nhưng VKS huyện vẫn bảo lưu quan điểm. Do giới hạn xét xử, tòa này vẫn xử Hùng tội đã truy tố và phạt bị cáo ba năm tù. Gia đình bị hại kháng cáo vì cho rằng bị cáo phạm tội giết người.

Ngày 9-6, TAND tỉnh Đắk Lắk đã tuyên y án sơ thẩm, phạt bị cáo Lê Viết Hùng (nguyên công an viên xã Phú Xuân, huyện Krông Năng, Đắk Lắk) ba năm tù về tội làm chết người trong khi thi hành công vụ. Đồng thời, tòa này kiến nghị cấp giám đốc thẩm hủy án để điều tra, xét xử lại.

Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại Đà Nẵng từng xử tội nặng hơn

Năm 2010, TAND tỉnh Đắk Lắk xử phạt bảy bị cáo Hà Xuân Linh, Nguyễn Văn Thắng, Trần Thái Vàng, Trần Văn Trừ, Lê Long Tây, Trần Đại Chuyên, Trần Văn Minh mỗi người từ năm năm tù đến 12 năm tù về tội cố ý gây thương tích.

Sau đó bị hại kháng cáo yêu cầu xử tội giết người đối với các bị cáo Linh, Thắng, Vàng và Trừ. Xử phúc thẩm năm 2011, TAND Tối cao tại Đà Nẵng đã chấp nhận kháng cáo, sửa án sơ thẩm tuyên phạt các bị cáo Linh, Thắng, Vàng và Trừ từ 11 năm đến 15 năm tù về tội giết người.

NGÂN NGA

BÌNH LUẬN

Minh Tâm

Giới hạn của việc xét xử không làm bó tay Tòa án. Như vụ án này, VKS truy tố tội "Làm chết người khi thi hành công vụ"(Điều 97-BLHS)hình phạt khoản 1 từ 2 năm đến 7 năm tù.Tòa án sơ thẩm cho rằng bị cáo phạm tôi" Cố ý gây thươn tích, dẫn đến chết người ( khoản 3 Điều 104-BLHS, hình phạt từ 5 năm đến 15 năm. Như vậy, khi Thẩm phán trả hồ sơ yêu cầ điều tra, phải ghi rõ" có căn cứ cho rằng bị cáo phạm tội khác - theo điểm b khoản 1 Điều 179-BLTTHS. Nếu VKS không thay đổi tội danh đã truy tố, vẫn giữ nguyên bản cáo trạng, thì Tòa án đưa vụ án ra xét xử,có quyền tuyên xử bị cáo không phạm tội như Cáo trạng đã truy tố.Và HĐXX khởi tố vụ án về tội " Cố ý gây thương tích dẫn đến chết người". Chẳng có qui định nào buộc Tòa án phải tuyên án theo Cáo trạng VKS truy tố mà Tòa án thấy có căn cứ cho rằng việc truy tố đó là không thỏa mãn các cấu thành của tội phạm. Còn trường hợp Tòa án sơ thẩm đã xét xử theo tội danh VKS truy tố, sau đó bị người bị hại kháng cáo hoặc VKS kháng nghị theo tội danh khác có hình phát nặng hơn,thì tôi đồng tình Tòa án cấp phúc thẩm căn cứ khoản 3 Điều 249-BLTTHS, sử án sơ thẩm, chứ không hủy án hoặc y án sơ thẩm rồi kiến nghị xem xét theo trình tự giám đốc thẩm.

LS Huynh

Do giới hạn xét cử phúc thẩm, toà phúc thẩm y án và kiến nghị cấp giám đốc thẩm xem xét kháng nghị là đúng pháp luật. Vấn đề thi đua k bằng lẽ phải và công lý. Hơn nữa, xét án bi huỷ phải xét động cơ của thâm phán và tính khách quan chu quan của bán án bị huỷ. Cón bị hại kc xin tăng nặng hình phạt thì mới có thể đc xem xét chứ xin thay đôi tội danh thì k chi có thể kiến nghị GĐ chứ k thể châp nhận sửa án.

Minh

Đoàn Hội thẩm nhân dân nên thuộc Đoàn ĐB QH các địa phương

tai tran

Tội cố ý gây thương tích và tội làm chết người trong khi thi hành công vụ có cấu thành tội phạm khác nhau. Nếu vướng giới hạn xét xử, tòa án cấp sơ thẩm có đủ căn cứ cho rằng bị cáo phạm tội cố ý gây thương tích thì phải tuyên bố bị cáo không pham tội làm chết người khi thi hành công vụ và kiến nghị vks hoặc tự mình khởi tố bị cáo về tội cố ý gây thương tích. Cớ sao lại tuyên bố bị cáo phạm tội làm chết người trong khi thi hành công vụ và phạt bị cáo 3 năm tù. Buộc tội như thế cũng đươc sao?

Xuân Đạt

Vì sao lại có những câu chuyện pháp lý lòng vòng, khó hiểu và chưa có hồi kết như vậy ? Phải chăng vì nhận thức của Thẩm phán- Người cầm cân nãy mực ? Hay tại vì đạo đức ? Ngoài ra, quy định của các Điều luật trong hệ thống các văn bản pháp luật của chúng ta cũng là một vấn đề, nguyên nhân gây rất khó hiểu, khó vận dụng, áp dụng. Ví dụ như: tại khoản 1 Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005 đã tồn tại hơn 10 năm qua, gây không ít bức xúc trong xã hội, sai phạm trong xét xử và đã bị hệ thống Ngân hàng, các tổ chức tín dụng lợi dụng quy định "mở" này để thực hiện hành vi gian dối của mình thu tiền lãi vay của khách hàng trái với quy định tại khoản 1 Điều 476 Bộ luật dân sự này. Đặc biệt là việc Ngân hàng Nhà nước ban hành một số văn bản nội bộ trái với Điều luật nhưng khi có vụ kiên đưa ra xét xử thì Tòa lại vận dụng ưu ái sử dụng các văn bản nội bộ của Ngân hàng mặc dù các văn bản này không phải là Luật ? tại sao vậy ? Không lẽ nào Luật lại bị vô hiệu khi có văn bản nội bộ của cơ quan hành chính, cơ quan quản lý ban hành văn bản hướng dẫn nội bộ của họ ? Còn Tòa các cấp khi xét xử họ thường rất bị động, lúng túng trước những LS có kinh nghiệm hoặc luật sư nào đọc kỷ tài liệu hồ sơ vụ án, họ cảm thấy phiên tòa không như ý của họ là bắt đầu sinh sự vớ Ls ngay cho dù không có lý do gì thì họ vẫn cứ thẻ hiện cái mà họ tự cho là họ có quyền, thậm chí ngay cả khi tuyên án xong, Bản án sẽ không được cấp theo đúng quy định của pháp luật mà sẽ bị kéo dài cả tháng sau thậm chí họ còn cố tình gửi sai địa chỉ để kéo dài thêm vài tháng sau khi tuyên án cho dù là án phúc thẩm có hiệu lực ngay.

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM