Chi 210 triệu để đủ điểm vào trường cảnh sát

Pháp luật

Chi 210 triệu để đủ điểm vào trường cảnh sát

(PLO)- Con ông H. thiếu điểm đậu vào trường cảnh sát nên tìm Thảo đưa 210 triệu đồng “lo lót” nhưng Thảo nhận tiền xong không làm gì. Ông H. tố cáo, Thảo bị đi tù còn ông thì bị tịch thu 210 triệu đồng sung quỹ nhà nước.

Bản tin liên quan

Chiều 29-9, TAND TP Cần Thơ xử phúc thẩm đã bác kháng cáo của bị cáo, bị hại, giữ y bản án sơ thẩm, tuyên phạt Đào Thị Thu Thảo bảy năm tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.


Bị cáo Thảo nghe tòa phúc thẩm tuyên án vào chiều 29-9. Ảnh: NN

Ngoài ra, tòa còn công nhận việc bị cáo đã trả cho bị hại 210 triệu đồng và buộc bị hại nộp lại số tiền này để tịch thu sung quỹ nhà nước.

Theo hồ sơ, con trai ông TBH có nguyện vọng được học tại Trường Trung cấp Cảnh sát nhân dân nhưng thi không đủ điểm. Từ đó ông H. có nhu cầu tìm người để xin cho con vào học tại trường này.

Qua giới thiệu của người quen, ông H. gặp Thảo tại một quán cà phê. Sau khi nghe ông H. trình bày, Thảo nói với ông là mình có người họ hàng trong Quân khu 9 sẽ lo cho con ông H. vào học tại trường này với giá 250 triệu đồng.

Tuy nhiên, sau khi thỏa thuận thì Thảo đồng ý lo hồ sơ cho con ông H. với giá 220 triệu đồng. Số tiền này, ông H. đưa trực tiếp cho Thảo hai lần, lần đầu 120 triệu đồng vào ngày 15-8-2015, có viết biên nhận. Đúng một tháng sau, ông H. đưa Thảo 90 triệu đồng nhưng Thảo không viết biên nhận mà nói ông H. về nhà đợi đến ngày 10-10-2015 có giấy báo nhập học thì sẽ nhận hết số tiền còn lại.

Đến hẹn, ông H. không nhận được giấy báo nhập học của con. Sau nhiều lần liên hệ, yêu cầu Thảo trả lại tiền nhưng không có kết quả, ngày 31-5-2016 ông H. đến công an tố cáo sự việc.

Làm việc với công an, Thảo khai nhận sự việc, nhận tiền nhưng không lo việc gì, chỉ để tiêu xài và giao nộp lại 210 triệu đồng để trả cho ông H. Sau đó công an đã giao trả số tiền này cho ông H. Ông H. làm đơn bãi nại cho Thảo.

Xử sơ thẩm vào ngày 5-4-2017, bị cáo Thảo cho rằng mình chỉ nhận giúp lo hồ sơ cho con ông H. với số tiền 40 triệu đồng, số 170 triệu đồng là vay mượn của ông H. Tuy nhiên, TAND quận Ninh Kiều không chấp nhận lời khai này.

Về số tiền 210 triệu đồng, TAND quận Ninh Kiều cho rằng đây là vật chứng đã trả lại cho bị hại, “HĐXX thấy rằng: Bị hại TBH cũng có lỗi trong việc đưa số tiền này cho bị cáo. Do biết con trai của bị hại không đủ điểm theo quy định để được tuyển vào Trường Trung cấp Cảnh sát nhân dân nhưng vẫn đưa tiền để tin rằng bị cáo dùng vào mục đích trái pháp luật “lo lót” để con bị hại được tuyển vào Trường Trung cấp Cảnh sát trong khi không đủ tiêu chuẩn. Giao dịch này giữa bị cáo và bị hại là giao dịch dân sự trái pháp luật, mà theo quy định Điều 137 BLDS năm 2005 (có hiệu lực vào thời điểm các bên giao tiền) quy định về giải quyết hậu quả của giao dịch trái pháp luật này phải tịch thu sung quỹ nhà nước. Do đó, số tiền 210 triệu đồng này cần buộc bị hại nộp lại để tịch thu sung quỹ nhà nước.

Từ đó, tòa sơ thẩm tuyên phạt Thảo bảy năm tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Công nhận việc bị cáo Thảo đã trả ông H. 210 triệu đồng và buộc ông H. nộp lại 210 triệu đồng để tịch thu sung quỹ nhà nước.

Sau đó ông H. kháng cáo xin nhận lại số tiền trên, còn bị cáo kháng cáo xin xem xét lại hình phạt vì cho rằng mình chỉ hứa lo học cho con ông H. 40 triệu đồng, còn lại là tiền vay mượn nhưng tòa phúc thẩm đã xử như trên.

NHẪN NAM

BÌNH LUẬN

Ngãi Cứu.

Tòa án các cấp xử bị cáo Đào Thị Thu Thảo 7 năm tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. ; Công nhận việc bị cáo Thảo đã trả ông H. 210 triệu. Nhưng Tòa buộc ông H. Nộp lại 210 triệu để tịch thu sung quỹ nhà nước. ( Theo Điều 137-BLDS-2005) qui định về Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu, là hiểu, áp dụng không đúng điều luật này đẻ xử lý (vật chứng,210 triệu đồng) trong vụ án hình sự Lừa đảo) Tòa kết án bà Thảo tội lừa đảo, ( bị cáo nhận tiền nhưng không làm gì) : chưa có hành vi mô giới hối lộ, chưa có hành vi đưa hối loojj, để lo cho con ông H đủ điểm để được vào trường Trung cấp cảnh sát, thì ông H là người bị hại cuat tội lừa đảo, Nên buộc bị cáo Thảo phải trả lại 210 triệu cho người bị hại. (Tòa công nhận bị cóa đã trả lại 210 triệu cho ông H, là đúng qui định về trách nhiệm dân sự của tội lừa đảo. Nhưng Tòa buộc ông H nộp lại 210 triệu để sung vào công quỹ ( thực chất là tịch thu số tiền này) vì Tòa án cho đây là tang vật của tội đưa hối lộ,) việc tịch thu 210 triệu là không đúng, vì bà Thảo chưa có hành vi đùng số tiền này vào việc hối lộ ( Nếu Tòa kết án bà Thảo về tội Môi giới hối lộ, hoặc tội đưa hối lộ, ( tịch thu 210 triệu là không sai). Nhưng Tòa kết án bà Thảo tội Lừa đảo, thì việc tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm, phải áp dụng qui định của Điều 41-BLHS để xử lý. Khoản 1 Điều 41 qui định tịch thu sung quỹ nhà nước áp dụng với: a) Công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội; b) Vật hoặc tiền do phạm tội hoặc do mua bán đổi chác những thứ ấy mà có; c) Vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành. ( thì tịch thu). Khoản 2 Điều 41 qui định: Đối với vật, tiền bị người phạm tội chiếm đoat hoặc sử dụng trái phép, thì không tịch thu mà trả lại cho chủ sơ hữu hoặc người quản lý hợp pháp; Khoản 3 qui định: Vật, tiền thuộc tài sản của người khác, nếu người này có lỗi để cho người phạm tội sử dụng vaoif việc thực hiện tội phạm, thì có thể bị tịch thu, sung quỹ nhà nước. Theo qui định này thì ông H đưa tiền cho Thảo 210 triệu, ( mục đích để đưa hối lộ xin đủ điểm cho con) nhưng Thảo không làm gì, mà chiếm đoạt, nên Thảo phạm tội lừa đảo, và ông H là người bị hại, ông được trả lại tiền hoặc được bồi thường thiệt hại. ( nếu Thảo chưa trả 210 triệu cho ông. ) Trong vụ này, ông H có lỗi theo qui định của khoản 3 Điều 41, đưa tiền cho Thảo dùng vào việc phạm tội ( đua Hối lộ), thì Có thể bị tịch thu,Nhưng Thảo không dùng vào việc đưa hối lộ, mà đó chỉ là thủ đoạn gian dối, để Thảo chiếm đoạt 210 triệu của ông H. Nên Tòa án không thể tịch thu khoản tiền này. Mặt khắc, nếu Thảo có dùng số tiền này để hối lộ, môi giới hối lộ, mà ông H đã tố cáo hành vi hối lộ, theo chính sách hình sự về chống tội phạm Hối lộ... Thì Người đưa hối lộ tố cáo người nhận hối lộ, có thể được miễn trách nhiệm hình sự, số tiền dùng vào việc phạm tội cũng có thể được trả lại, chứ không tịch thu. Do đó, tôi cho rằng Tòa án tịch thu tiền, buộc ông H nộp lại 210 triệu để sung công, là không đúng chính sách pháp luật.

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM