Bị can nộp bao nhiêu tiền thì được tại ngoại?

Pháp luật

Bị can nộp bao nhiêu tiền thì được tại ngoại?

(PL)- Bị can, bị cáo dùng thủ đoạn xảo quyệt, phạm tội có tổ chức, người chủ mưu, cầm đầu, ngoan cố chống đối, côn đồ, tái phạm… thì không được cho áp dụng biện pháp đặt tiền bảo đảm để được tại ngoại.

Bản tin liên quan

Mới đây (ngày 4-1), TAND TP.HCM đã xử phúc thẩm một vụ án đánh bạc đối với năm bị cáo. Đáng chú ý, tại phần tranh luận của phiên tòa, đại diện VKS đã đề nghị HĐXX trả lại cho một bị cáo số tiền 50 triệu đồng là tiền cọc để bảo đảm không bị tạm giam. Bản thân bị cáo cũng không “nhớ” việc này và án sơ thẩm cũng không đề cập đến. HĐXX sau đó đã chấp nhận đề nghị này của VKS.

Xung quanh tình tiết nêu trên của vụ án, nhiều bạn đọc nêu thắc mắc có phải cứ nộp tiền là sẽ được tại ngoại?


 

Bảo lĩnh khác đặt tiền để bảo đảm

ThS Trần Thanh Thảo (giảng viên Trường ĐH Luật TP.HCM) cho biết: Biện pháp bảo lĩnh (Điều 121 BLTTHS 2015) và biện pháp đặt tiền để bảo đảm (Điều 122 BLTTHS) đều là các biện pháp ngăn chặn. Biện pháp này để thay thế biện pháp tạm giam do cơ quan có thẩm quyền áp dụng để bảo đảm sự có mặt của bị can, bị cáo theo giấy triệu tập, đúng thời gian quy định và không thực hiện các hành vi cản trở đến hoạt động tố tụng của vụ án.

Biện pháp bảo lĩnh là biện pháp do cá nhân, cơ quan, tổ chức khác sử dụng uy tín, nhân thân của cá nhân, cơ quan, tổ chức đó để thực hiện việc bảo lĩnh cho bị can, bị cáo được tại ngoại.

Trong khi đó, biện pháp đặt tiền để bảo đảm (đặt tiền) do chính bị can, bị cáo đó bỏ tiền ra để đặt hoặc người thân thích của bị can, bị cáo bỏ tiền ra để đặt nhằm bảo đảm cho việc tại ngoại của bị can, bị cáo.

Về cơ sở để áp dụng các biện pháp nêu trên, luật sư Trần Bá Học (Đoàn LS TP.HCM) cho biết: Đối với biện pháp bảo lĩnh, căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi cũng như nhân thân của bị can, bị cáo mà cơ quan điều tra, VKS, tòa án (nói chung là cơ quan tiến hành tố tụng - CQTHTT) có thể chấp nhận cho những người này được áp dụng biện pháp bảo lĩnh để thay thế cho tạm giam.

Đối với biện pháp đặt tiền bảo đảm, CQTHTT sẽ căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, nhân thân và tình trạng tài sản của bị can, bị cáo để có thể quyết định cho họ hoặc người thân thích của họ đặt tiền bảo đảm để thay thế cho tạm giam. Việc đánh giá khi nào thì bị can, bị cáo không bị tạm giam và thay thế bằng các biện pháp như đã đề cập, đa phần phụ thuộc vào ý chí chủ quan từ phía các CQTHTT.

Như vậy, hai biện pháp này về cơ bản là giống nhau. Tuy nhiên, điểm khác nhau cơ bản là biện pháp đặt tiền để bảo đảm thì phải có một số tài sản nhất định để “làm tin”. Về nguyên tắc, số tiền đặt để đảm bảo thay đổi biện pháp tạm giam sẽ được trả lại cho bị can, bị cáo hoặc người thân của họ nếu họ không vi phạm các cam kết với CQTHTT.

Cần lưu ý rằng biện pháp bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm chỉ áp dụng đối với đối tượng là bị can hoặc bị cáo; chỉ áp dụng sau khi đã có quyết định khởi tố vụ án và khởi tố bị can.

Nộp bao nhiêu tiền sẽ được tại ngoại?

Cũng theo ThS Trần Thanh Thảo: Điều 4 Thông tư liên tịch số 06/2018 (quy định về trình tự, thủ tục, mức tiền đặt, việc tạm giữ, hoàn trả, tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền đã đặt để bảo đảm) thì mức tiền đặt để bảo đảm do CQTHTT quyết định nhưng không dưới 30 triệu đồng đối với tội phạm ít nghiêm trọng; 100 triệu đồng đối với tội phạm nghiêm trọng; 200 triệu đồng đối với tội phạm rất nghiêm trọng; 300 triệu đồng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Cạnh đó, số tiền đặt có thể áp dụng mức thấp hơn nhưng không dưới 50% của số tiền đã nêu đối với bị can, bị cáo là người thuộc đối tượng chính sách…; người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất.

Bị can, bị cáo được bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm phải làm giấy cam đoan thực hiện các nghĩa vụ theo luật định như: Có mặt theo giấy triệu tập; không bỏ trốn hoặc tiếp tục phạm tội; không tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; không đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm…

“Nếu vi phạm bất kỳ một trong các nghĩa vụ vừa nêu thì bị can, bị cáo bị tạm giam và số tiền đã đặt để bảo đảm sẽ bị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước” - ThS Trần Thanh Thảo nói.

Thời hạn bảo lĩnh, đặt tiền không được quá thời hạn điều tra, truy tố hoặc xét xử theo quy định của BLTTHS. Thời hạn bảo lĩnh, đặt tiền đối với người bị kết án phạt tù không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm người đó đi chấp hành án phạt tù.

Điều kiện để được xét cho đặt tiền bảo đảm

Bị can, bị cáo, người thân thích của bị can, bị cáo hoặc người đại diện của bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất có quyền đề nghị bằng văn bản với CQTHTT đang thụ lý vụ án về việc áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm đối với bị can, bị cáo...

Trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ khi nhận được đơn đề nghị và các giấy tờ có liên quan, CQTHTT đang thụ lý vụ án có trách nhiệm xem xét, nếu thấy có đủ điều kiện áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm thì ra thông báo cho bị can, bị cáo, người thân thích hoặc người đại diện của bị can, bị cáo… 

Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình trạng tài sản, nhân thân của bị can, bị cáo; bị can, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội lần đầu, tố giác đồng phạm, có tình tiết giảm nhẹ (như tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo, lập công chuộc tội, tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại...); việc cho bị can, bị cáo tại ngoại không gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án thì CQTHTT có thể quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm trừ các trường hợp sau:

a) Bị can, bị cáo dùng thủ đoạn xảo quyệt, phạm tội có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng; b) bị can, bị cáo là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, tái phạm, tái phạm nguy hiểm; c) bị tạm giam trong trường hợp bị bắt theo lệnh, quyết định truy nã; d) phạm nhiều tội; đ) phạm tội nhiều lần.

(Trích Điều 6 và Điều 7 Thông tư liên tịch số 06/2018 giữa các bộ Công an, Quốc phòng, Tài chính, VKSND Tối cao và TAND Tối cao)


HOA THI

BÌNH LUẬN

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM